TRANG CHỦ  :: Giới thiệu  
19 Tháng Mười 2019 ..::  SỐNG LỜI CHÚA     » Kitô Học ::..   Đăng Nhập  

SỐNG LỜI CHÚA

 
Chúa nhật XXVIII TN C 2019: Kết hợp với Đấng ban ơn
Thiên Chúa không dừng lại ở những viên kẹo ơn phúc đã ban cho ta. Ngài còn đi xa hơn để ban cho ta nguồn ơn cao cả nhất là chính Con Một của Ngài đã hoá thành người vì chúng ta. Đó là Chúa Giêsu, là tình yêu cụ thể của Thiên Chúa. ...

TIN TỨC

 
Thông báo lần I về chương trình khám sức khoẻ ngày Chủ Nhật 20/10/2019
Lần công tác từ thiện sắp tới của chúng tôi dành cho người tàn tật, trẻ mồ côi và đồng bào nghèo ở Quận 9 và Quận Thủ Đức của TP. HCM. Đây là những quận nghèo, có nhiều người ít khi được khám chữa bệnh và vẫn cố gắng chịu đựng cơn bệnh từ nhiều năm qua. Thông cảm với nỗi đau đó, Hội Bảo trợ Người Khuyết tật và Trẻ Mồ côi TP.HCM hợp tác với đoàn bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, điều dưỡng của các bệnh viện và tình nguyện viên tổ chức khám sức khoẻ, chữa bệnh, chữa răng, phát thuốc miễn phí cho đồng bào trong 2 quận này và các quận lân cận vào sáng Chủ nhật, ngày 20/10/2019, từ 7g00 đến 11g30. Địa điểm: Trường Mầm Non Thanh Lịch (Tu hội Bác Ái Cao Thái), số 39/7 Đường số 16, Khu phố Vĩnh Thuận, Phường Long Bình, Quận 9, TP.HCM. ...
 
Thư ĐTC gửi nhân Ngày Lương thực Thế giới
ĐTC Phanxicô: Vượt qua não trạng cục bộ để đến với người khác
Các trao đổi bên lề THĐGM về Amazon
Giám mục Brazil: Giáo sĩ thiếu thánh thiện cản trở sự gia tăng ơn gọi linh mục
Án phong chân phước cho Chị Chiara Lubich ở cấp giáo phận đã kết thúc
Ứng dụng đọc Kinh Mân Côi điện tử “Click to Pray eRosary”

CHUYÊN ĐỀ

 
Công bố kết quả Tổng điều tra dân số 2019
Tổng số dân của Việt Nam vào thời điểm 0h ngày 01/4/2019 là 96.208.984 người, trong đó dân số nam là 47.881.061 người (chiếm 49,8%) và dân số nữ là 48.327.923 người (chiếm 50,2%). Với kết quả này, Việt Nam là quốc gia đông dân thứ 15 trên thế giới, tụt 2 bậc so với cách đây 10 năm, và đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á (sau Indonesia và Philippines). ...
 
Việt Nam phóng thêm vệ tinh LOTUSat-1
Người Hội An xa dần, phố cổ giờ 'rỗng ruột'
Tại sao TP.HCM chưa thành trung tâm tài chính?
Điều chỉnh metro số 1 chỉ còn chờ ý kiến Bộ Kế hoạch - đầu tư
Giải quyết BOT Cai Lậy bằng cách nào?
Đề nghị bỏ lệ phí môn bài ra khỏi luật

GIAO LƯU

 
Quỹ Nghiên cứu ung thư khuyến cáo mỗi tuần chỉ ăn bao nhiêu thịt đỏ?
Với khuyến nghị “cứ ăn thoải mái” thịt đỏ của nhóm nghiên cứu NutriRECS, TS.BS Trần Quốc Cường - giảng viên bộ môn dinh dưỡng và an toàn thực phẩm Trường đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (TP.HCM) - cho rằng chưa đủ thuyết phục. ...
 
Dùng nước khoáng nấu ăn, nên không?
Phụ nữ tắc vòi tử cung có cơ hội mang thai tự nhiên
Trẻ vị thành niên mọc lông, bé nam có ngực lớn như phụ nữ vì lạm dụng thuốc


People Online Thành viên online:
Visitors Khách: 71
Members Thành viên: 0
Total Users Tổng cộng: 71

58.246.557

 Chi tiết
Lược sử Giáo hội Công giáo Việt Nam
(Cập nhật: 07/02/2017 09:18:52)

 LƯỢC SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VIỆT NAM
(1533-2015)



Câu hỏi: Sau khi đọc bài thuyết trình cha dự kiến chia sẻ trong cuộc họp Các Bề trên Giám tỉnh Tu Hội Truyền Giáo Thánh Vinh Sơn vào cuối tháng 2 năm 2017 tại Việt Na, chúng con nhận thấy bài viết của Cha nghiên cứu sâu, có những cập nhật mới, đã nêu lên được một số vấn đề một số mặt tích cực và hạn chế của Giáo Hội VN trong việc PAH và nhiều điều khác nữa. Xin Cha nói sơ lược một chút về lịch sử Giáo Hội Việt Nam từ khi hạt giống TM bắt đầu được gieo vào VN cho đến nay. Những khó khăn, bách hại qua dòng lịch sử, đặc biệt trong bối cảnh hiện tại (thách đố về chủ nghĩa vô thần) ảnh hưởng thế nào đối với việc PAH. 

Trả lời: Con có một bài khá đầy đủ trong cuốn sách GHCGVN Niên Giám 2016, chương 10, tr. 171-194. Có thể tóm tắt ít dòng như sau:

Nhập đề

Từ hạt giống Tin Mừng được các thừa sai nước ngoài gieo vãi vào thế kỷ XVI và chính thức từ năm 1615 với đoàn thừa sai Dòng Tên ở Hội An Đà Nẵng, Giáo Hội của Đức Kitô đã sinh những người con ở Việt Nam. Những người con ấy đã lớn lên, đã trưởng thành và rồi lại tiếp tục sinh ra những người con mới cho Thiên Chúa, cho Đức Giêsu Kitô, để trở thành Giáo hội Mẹ Việt Nam. Giáo Hội ấy được thể hiện cách cụ thể trên mảnh đất quê hương hôm nay với khoảng 95 triệu người dân Việt, trong đó có 6.736.303 tín hữu Công giáo gồm đủ các dân tộc. Giáo hội ở Việt Nam tính đến 31/12/2015 có: 3.057 giáo xứ, giáo họ thuộc 26 giáo phận và tổng giáo phận, với 45 giám mục và tổng giám mục, 3.907 linh mục triều, 1.290 linh mục dòng, 4.334 nam tu, 18.862 nữ tu, 4.854 chủng sinh và dự tu, 66.624 giáo lý viên (x. VP Tổng Thư ký HĐGMVN, Số liệu thống kê)

Chúng tôi chọn cách phân chia các thời kỳ của GHCGVN dựa theo mốc thời gian với những biến cố quan trọng đánh dấu sự thay đổi lớn lao của cơ cấu GHVN.

Chúng ta có thể chia lịch sử GHCGVN thành các thời kỳ sau đây:
- Khai sinh (1533 - 1659)
- Tăng trưởng (1659 - 1802)
- Phát triển (1802 - 1960)
- Trưởng thành (1960 đến nay)

1. Thời kỳ khai sinh (1533-1659)

Sau khi Lê Lợi chiến thắng quân Minh, triều đại Lê kéo dài hơn 350 năm (1428-1788) có lúc thịnh, lúc suy và đầy biến động. Trong thế kỷ XV, xã hội Việt Nam ổn định, nông nghiệp được phục hồi và phát triển, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống và Phật giáo trở thành tôn giáo của dân gian. Sang thế kỷ XVI, nhà Lê suy yếu với các ông vua ham mê tửu sắc, triều đình thiếu người tài trí, xã hội bắt đầu hỗn loạn. Năm 1527, Mạc Đăng Dung lật đổ vua Lê lập ra triều Mạc ở Thăng Long, Hà Nội. Họ Trịnh từ vùng Thanh Hoá, với danh nghĩa phò Lê, gây chiến với họ Mạc và năm 1592 chiếm được Thăng Long, đưa vua Lê trở lại ngai vàng nhưng nắm giữ mọi quyền hành. Nhà Mạc rút lên cố thủ ở Cao Bằng. Chiến tranh Trịnh – Mạc chưa chấm dứt thì các chúa Nguyễn lại nổi lên ở phía Nam sông Gianh (Quảng Bình). Các cuộc chiến tranh liên miên giữa hai nhà Trịnh – Nguyễn kéo dài từ 1662 đến 1772 đã làm cho dân chúng vô cùng khốn khổ, sinh mạng con người bị coi thường, người dân kiệt quệ vì sưu cao thuế nặng để chi phí cho súng đạn, vũ khí. Trong bối cảnh đó, đạo “Thiên Chúa” (Công giáo) được các thừa sai nước ngoài giới thiệu cho người dân Việt.

1.1. Giai đoạn dò dẫm đầu tiên (1533-1615)

Từ cuối thế kỷ XVI, nhất là từ thế kỷ XVII, quan hệ thương mại của Việt Nam với các nước phương Tây như Bồ Đào Nha, Anh, Pháp và cả Nhật Bản ở phương Đông phát triển. Các chúa Trịnh, Nguyễn muốn giao hảo với người nước ngoài để bán hàng hoá trong nước và nhất là để mua được nhiều súng đạn, tàu chiến. Trong khi đó, GHCG toàn cầu lại phát động công cuộc truyền giáo và gửi các nhà thừa sai đi khắp nơi, nhất là đến Ấn Độ và Trung Quốc như Thánh Phanxicô Xaviê (1541), cha Matteo Ricci. Nhiều vị thừa sai đi theo các đoàn tàu buôn đến truyền giáo tại các miền Á Châu và Viễn Đông, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, tất cả chỉ là những bước dò dẫm sơ khởi và không đạt được kết quả đáng kể.

Theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục vào “tháng 3 năm Nguyên Hoà thứ nhất (1533) đời Lê Trang Tông, có người Tây dương tên I-Nê-Khu, lén đến truyền đạo Giatô ở làng Ninh Cường và Quần Anh, huyện Nam Chân và làng Trà Lũ, huyện Giao Thuỷ” (thuộc tỉnh Nam Định, Gp. Bùi Chu hiện nay). Vì thế, nhiều nhà sử học Công giáo Việt Nam đã chọn năm 1533 như khởi đầu cho đạo tại Việt Nam.

Nhiều nhà truyền giáo khác như năm 1550, linh mục Gaspar da Santa Cruz, O.P., đến giảng đạo tại Hà Tiên. Năm 1558, Alonso da Costa và Gonsalves đến giảng đạo ở vùng Vạn Lại;  Luis da Fonseca, Grégoire de la Motte, OP, đến truyền giáo ở Đàng Trong (1580). Năm 1583, Diego Doropesa, Bartolomeo Ruiz, Pedro Ortiz, Francisco de Montilla, dòng Đa Minh truyền đạo tại An Quảng Yên. Năm 1591 tại Thanh Hoá, Pedro Ordoñez de Cevallos, người Tây Ban Nha, bị bão, đã đến truyền giáo tại An Trường, Thanh Hoá.

1.2. Giai đoạn mở đạo chính thức (1615-1659)

 Giai đoạn này kéo dài từ năm 1615-1665 với các vị thừa sai Dòng Tên, ở cả hai miền Nam Bắc, lấy sông Gianh làm ranh giới. Phía Nam gọi là Đàng Trong, do các chúa Nguyễn cai quản. Phía Bắc gọi là Đàng Ngoài do vua Lê, chúa Trịnh nắm quyền. Nhờ kinh nghiệm hội nhập văn hoá của linh mục Matteo Ricci (1582) ở Trung Quốc và Valignano ở Nhật Bản, các thừa sai quan tâm đến việc học ngôn ngữ, phong tục dân Việt và giảng đạo bằng tiếng Việt.

Nhờ các “Thầy Giảng” và “Câu Trùm” là những tông đồ giáo dân nhiệt thành, việc truyền giáo đã đạt được những kết quả ngoài sức tưởng tượng. Sau 37 năm truyền giáo ở Đàng Ngoài (25 linh mục và 5 trợ sĩ) và 50 năm truyền giáo ở Đàng Trong (39 linh mục và 1 trợ sĩ), các thừa sai Dòng Tên đã rửa tội khoảng 100.000 tín hữu (20.000 ở Đàng Trong và 80.000 ở Đàng Ngoài. Việc rao giảng Tin Mừng được vua chúa Việt Nam quy định rõ ràng trong một số nơi chốn với nhiều hạn chế của các quan lại địa phương, nên các tín hữu gặp nhiều khó khăn trong việc giữ đạo và có nơi đã phải đổ cả máu đào để làm chứng đức tin như thầy giảng Anrê Phú Yên ở Quảng Nam ngày 26/7/1644.

2. Thời kỳ tăng trưởng (1659-1802)

Sau khi bị trục xuất vĩnh viễn khỏi Việt Nam năm 1645, cha Đắc Lộ về châu Âu tường trình cánh đồng truyền giáo chín vàng ở Việt Nam để kêu gọi có thêm thừa sai và giám mục sang Việt Nam. Ngày 9/9/1659, Đức Thánh Cha Alexander VII, qua Sắc chỉ Super Cathedram, quyết định thiết lập ở Việt Nam hai giáo phận và chọn hai vị thừa sai thuộc Hội Truyền giáo Paris (MEP) làm Đại diện Tông toà. Gp. Đàng Trong từ sông Gianh trở vào Nam, gồm cả phần đất Chiêm Thành, Chân Lạp do Đức cha Pierre Lambert de la Motte cai quản. Gp. Đàng Ngoài từ sông Gianh trở ra Bắc, bao gồm cả Lào và 5 tỉnh miền Nam Trung Quốc do Đức cha François Pallu coi sóc.

Chúng ta ghi nhận một số khó khăn chính của thời kỳ này.

Khó khăn trước hết là sự bất hoà giữa các thừa sai Dòng Tên và các giám mục Đại diện Tông toà thuộc Hội Thừa sai Paris cũng như giữa các thừa sai thuộc nhiều quốc tịch khác nhau. Khó khăn này bắt nguồn từ quan điểm cởi mở hay đóng kín với việc hội nhập văn hoá bản địa, nhất là với việc tôn kính Đức Khổng Tử và thờ cúng tổ tiên. Khó khăn thứ hai là tính cách bất hợp pháp của Công giáo do các sắc chỉ cấm đạo của vua chúa. Nhiều vị thừa sai nước ngoài cũng như linh mục Việt Nam đã bị giết hại dưới thời các vua chúa.

Các vị vua chúa cho rằng đạo Công giáo dạy nhiều điều trái ngược với luân thường đạo lý khi cổ vũ ý niệm dân chủ cho rằng mọi người đều là anh em con của một Đức Chúa Trời và không ai có quyền sinh sát trong tay như ông vua trong chế độ quân chủ, cổ vũ hôn nhân “một vợ, một chồng” trái với tục đa thê có từ lâu đời trong xã hội, và chủ trương nam nữ bình đẳng đi ngược với quan niệm ngàn đời của Nho giáo “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”. Hàng chục ngàn giáo dân (khoảng 30.000) đã bị giết chết chỉ vì muốn bảo vệ đức tin và những sự thật đó. Họ chấp nhận bị tù đày, bị ngược đãi, bị cướp bóc tài sản, bị phân sáp vào các làng người không có đạo để làm nô lệ chứ nhất định không bỏ đạo.

Tuy nhiên, dù chịu nhiều thử thách và bách hại vì đức tin, số tín hữu ở cả 3 giáo phận vẫn tăng lên không ngừng. Vào năm 1802, GHVN đã thành hình cơ cấu tổ chức gồm 3 giáo phận với 121 linh mục Việt Nam, 17 thừa sai gồm cả giám mục và linh mục, khoảng 320.000 tín hữu.

3. Thời kỳ phát triển (1802-1960)

Sau thời kỳ tăng trưởng giống như những năm tháng thời niên thiếu của một con người, GHVN bước vào thời kỳ phát triển, trong đó GHVN lớn lên về mọi mặt. Thời kỳ này có thể chia thành 2 giai đoạn: giai đoạn thử thách và giai đoạn tương đối an lành. Trong thời kỳ này, đất nước đã thống nhất về mặt chính quyền: dân tộc Việt sống dưới chế độ quân chủ chuyên chế của các vua triều Nguyễn, đặt kinh đô tại Phú Xuân, Huế.

3.1. Giai đoạn thử thách (1802-1886)

Gọi là giai đoạn thử thách vì trong suốt giai đoạn này, trừ 18 năm đầu dưới triều vua Gia Long (1802-1820), 63 năm còn lại GHVN phải chịu đựng những cuộc bách hại tàn khốc do vua quan triều đình Nhà Nguyễn cũng như do sĩ phu và dân chúng theo phong trào Văn Thân gây nên.

Một câu hỏi đặt ra cho những người thời trước và ngay cả thời nay: tại sao người Việt Nam thời đó lại theo đạo Công giáo bất chấp những thử thách, gian lao?

Câu trả lời đơn giản là người Công giáo thời đó muốn đi tìm con đường sống trong cái lẽ tử sinh của kiếp người.

Nho giáo dạy người dân phải trung với vua, vì vua là thiên tử thay trời trị dân, có toàn quyền sinh sát đến độ “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”. Vì thế, người Công giáo không bao giờ tỏ thái độ bất trung, bất kính với vua. Họ luôn nhớ đến cái chết của Chúa Giêsu, Con của Chúa Cha là Vua Trời đất, nên Người cũng là Thiên Tử. Thay vì bắt người khác phải chết thì Chúa Giêsu lại chết thay cho mọi người để đền tội và hoà giải với mọi người. Người Công giáo lại được dạy chỉ có Chúa Trời là chủ của sự sống vĩnh hằng, nên dù sự sống ở đời này có mất đi, họ sẽ được sống mãi mãi ở đời sau. Chúa Trời là cha chung của mọi người nên tất cả đều là anh em, con cái của “Cha trên trời”, và đều bình đẳng với nhau về mặt giá trị làm người dù vẫn có tôn ti trật tự trong xã hội. Hơn nữa, sau cuộc sống lữ hành ở trần thế này còn có cuộc sống vĩnh hằng ở thế giới bên kia mà người ta sẽ đạt được nhờ lòng tin vào Đức Giêsu. Chính trong tinh thần ấy, giá trị con người được nâng cao đến tột đỉnh.

Niềm tin vào đời sống vĩnh cửu lại thể hiện rất trong sáng và tích cực trong đời sống thường ngày và nó trở nên một sức hút kỳ lạ của tôn giáo mới đối với mọi người dân Việt thời đó vì họ chưa hiểu biết nhiều về khoa học, chưa biết giữ vệ sinh nên nhiều trẻ sơ sinh bị chết yểu, nhiều sản phụ mắc bệnh hậu sản. Hằng ngày, người ta thường dùng nước ao tù để tắm rửa, ăn uống, nên dễ bị các bệnh toét mắt, ghẻ lở, giun sán, đường ruột… Người Công giáo, nhờ được các giáo sĩ Tây Phương, các thầy giảng, các dì phước MTG dạy các kiến thức về khoa học phổ thông, nên biết lọc nước bằng than cát sỏi để dùng và nấu nước chín để uống, giữ vệ sinh thân thể nên trở thành những người khoẻ mạnh, xinh đẹp. Các nữ tu MTG thời ấy trở thành những nữ hộ sinh và y tá nông thôn.

Trong xã hội phong kiến xây dựng trên Nho giáo: nữ giới bị khinh miệt, đối xử bất bình đẳng. Đạo Công giáo, với chế độ một vợ một chồng, nam nữ bình đẳng và quan niệm mỗi người đều là con cái Chúa, đã giới thiệu những nét mới cho xã hội Việt Nam. Gia đình người có đạo an vui, hạnh phúc, trong nhà lúc nào cũng vang tiếng cười vì không có cảnh “vợ cả, vợ lẽ”, “con bà, con tôi”, nam nữ đều được tôn trọng, được học hành, làm việc như nhau.

Thời đó, chữ nghĩa “quý giá” và đắt đỏ, cả làng may ra chỉ có một vài người giàu mới có đủ điều kiện cho con cháu đi học chữ Nho, hy vọng đỗ trong các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình do nhà vua tổ chức để ra làm quan cho triều đình. Nhưng các tín hữu Công giáo, với lý lịch không tốt vì lý do theo “tả đạo”, với các chữ đó khắc trên trán, trên mặt, họ không thể đi học, đi thi, buôn bán hay làm bất cứ nghề nghiệp chính thức nào. Tuy nhiên tất cả “người có đạo”, dù là nam hay nữ, trẻ hay già, đều được khuyến khích học hành, lúc đầu là chữ Nho, chữ Nôm, sau là chữ Quốc ngữ. Kinh sách đọc hằng ngày, giáo lý học hằng tuần, càng làm cho người có đạo dễ học hành và truyền bá chữ nghĩa cho nhau hơn.

Thứ chữ đó, sau này gọi là quốc ngữ, ghi âm tiếng nói của người Việt trong đời sống thường ngày bằng mẫu tự Latinh với 24 chữ cái, thay vì 214 bộ chữ đơn từ 1 nét đến 17 nét trong bộ chữ Hán của người Trung Hoa. Chữ này vừa dễ đọc dễ viết, ích lợi trong đời sống giao tiếp xã hội nên được dân chúng thích thú theo học và truyền lại cho nhau, chứ không phải chỉ trong cộng đồng những người Công giáo. Điều này đụng chạm đến lòng tự ái của những quan lại triều đình, của giới sĩ phu tự cho là những “người có học” trong xã hội thời đó. Đây cũng là nguyên nhân quan trọng để hiểu tại sao phong trào Văn Thân lại hô hào “bình Tây, sát Tả” sau này khi người Pháp xâm chiếm nước ta.

Chúng ta cũng nên ghi nhận rằng: đạo Công giáo đã góp phần không nhỏ vào cuộc thăng hoa các nền văn hoá của người Chăm, người Khơ Me ở phương Nam. Nền văn hoá tinh thần của Kitô giáo theo đoàn người mở đất Phương Nam đã thay đổi nền văn hoá vật chất, tính giao với những Linga và Yoni của Chiêm Thành, Thuỷ Chân Lạp.

Về phương diện kinh tế, người theo đạo cực khổ tư bề vì bị áp bức bởi bọn cường hào ác bá trong làng, vì sưu cao thuế nặng, vì bị cấm hành nghề. Họ chỉ còn cách từ Bắc xuôi vào miền Nam, đến những phiên trấn mới mở, sống chung với những kẻ bị kết án lưu đày, cùng che giấu lai lịch của mình bằng những tên gọi trống không: anh Hai, chị Ba, cô Tư... để được yên thân giữ đạo. Họ sống đùm bọc lẫn nhau, coi nhau như anh em họ hàng, nên gọi là họ đạo (giáo xứ), truyền nghề cho nhau để cùng làm cùng hưởng, làm ra cái gì cũng phải thật tốt, bán ra cái gì cũng phải thật rẻ, lúc nào cũng nói thật, nói thẳng để khỏi làm “ô danh Chúa và nhục cho người có đạo”. Nhờ đoàn kết yêu thương như thế, người có đạo luôn sống sung túc, nên mới có câu “theo đạo lấy gạo mà ăn”. Tuy nhiên, những làng Công giáo trù phú kia lại trở thành những mồi ngon cho một số người, nhất là khi những người này được thúc đẩy cướp phá, chém giết nhân danh lòng ái quốc trong phong trào Văn Thân. Để đối phó trong cơn bách hại gắt gao, người có đạo rủ nhau trốn vào những nơi hoang vu, phá rừng làm rẫy như ở La Vang, Trà Kiệu. Không ngờ, chính lối sống này lại làm cho đất nước phát triển về mặt kinh tế, bờ cõi được mở mang.

Đến đây, ta có thể hiểu tại sao đạo Công giáo lại phát triển nhanh chóng ở Việt Nam vì đạo chỉ cho người dân con đường sống khoẻ mạnh, tốt đẹp, khôn ngoan, sung túc, cao quý, xứng với phẩm giá con người, nên dù phải chịu đựng nhiều thiệt thòi, bất công, thậm chí bị giết hại, nhiều người vẫn theo đạo cũng như các tín hữu vẫn trung thành với Chúa và yêu thương nhau. Số tín hữu vẫn không ngừng gia tăng trong cả 2 miền Nam Bắc ngay trong những giai đoạn thử thách cam go nhất.

GHVN vào năm 1850 có 8 giáo phận với số giáo dân ở 4 giáo phận miền Bắc là 380.000 người, 147 linh mục và 4 giáo phận trong Nam khoảng 120.000 người và 80 linh mục.

Cuộc xâm lăng của người Pháp

Sau khi các thừa sai người Pháp bị bắt giam ở Huế năm 1843, giám mục Lefèbre bị bắt ở cửa Cần Giờ (1846) và thừa sai Duclos (Lộ) bị chết trong trại giam năm 1846, quân Pháp được lệnh bắn phá cảng Đà Nẵng ngày 15/4/1847. Lập tức vua Thiệu Trị ban hành sắc lệnh chống Công giáo ngày 03/5/1847 và người ta liên kết việc theo đạo Công giáo với việc làm tay sai cho Pháp, phản bội dân tộc. Nhiều nhà Nho đã tuyên truyền với dân chúng luận điệu này và không ít đồng bào đổi mối thiện cảm với người Công giáo trước đây thành ác cảm và hận thù kẻ phản quốc, nhất là khi người Pháp đánh chiếm các tỉnh Nam Kỳ.

Cuộc sát hại tập thể người Công giáo xảy ra nhiều nơi trên đất nước do lòng ái quốc của đồng bào phản ứng lại việc người Pháp xâm lăng

Phong trào Văn Thân

Phong trào này bắt đầu ở Nghệ An, Nam Định năm 1867 và lan ra rất nhanh ở nhiều nơi trong nước, nhất là trong các tỉnh miền Trung vào những năm 1867-1868, 1873-1874 và 1883-1885, cho đến khi kết thúc vào năm 1886. Với khẩu hiệu “bình Tây, sát Tả”, các sĩ phu hô hào dân chúng giết những người lính Pháp và cả những người nước ngoài ở phương Tây đến truyền đạo, đồng thời giết cả những người Việt theo đạo vì họ đã theo tà đạo của người Tây phản bội đất nước. Do lòng ái quốc sôi sục, căm hờn vì thất trận, mất đất, quần chúng nồng nhiệt tham gia cướp phá các làng người Công giáo và giết hại tất cả những ai theo đạo. Trong khi đó, người Công giáo lại được học bài học sẵn sàng chết để làm chứng cho đức tin, không hận thù hay chống lại kẻ bách hại mình để noi gương Chúa Giêsu, nên số người Công giáo bị giết hại trong giai đoạn 1802-1886 khoảng gần 100.000 người.

Một số nhà Nho có tâm huyết như Phan Bội Châu (1867-1940), Phan Chu Trinh (1872-1926) nhận chân được giá trị của người Công giáo Việt Nam. Vào năm 1883, Toà Thánh tách Gp. Đông Đàng Ngoài thành hai giáo phận. Như thế là vào cuối giai đoạn này, GHVN có 9 giáo phận với số tín hữu gần 600.000 người. Trong giai đoạn thử thách này, dù bị giết hại rất nhiều nhưng số tín hữu vẫn không hề sút giảm.

3.2. Giai đoạn phát triển trong an bình (1886-1960)

Giai đoạn này được gọi là phát triển trong an bình vì không còn những cuộc bách hại trực tiếp bởi triều đình hay quần chúng, nhưng GHVN vẫn chịu tác động bởi những biến cố trong lịch sử dân tộc và thế giới.

Bối cảnh đất nước

Ở Việt Nam, từ năm 1887, người Pháp hoàn tất quá trình xâm lược Việt Nam và tổ chức một bộ máy cai trị khá hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương. Ở trung ương, đứng đầu là phủ toàn quyền Đông Dương, Việt Nam chia thành 3 miền, miền Nam là thuộc địa của Pháp có thống đốc Nam kỳ, miền Trung có khâm sứ Trung kỳ, miền Bắc có thống sứ Bắc kỳ. Nền quân chủ do vua nhà Nguyễn ở kinh đô Huế chỉ còn là bù nhìn sau khi Phong trào Cần Vương năm 1885 thất bại.

Sau thế chiến thứ I (1914-1918) và thứ II (1939-1945), dân tộc Việt Nam trải qua thời kỳ bất ổn triền miên kéo dài tới năm 1954. Nhiều phong trào chống Pháp với các cuộc khởi nghĩa nổ ra khắp nơi như Việt Nam Quốc dân Đảng với Nguyễn Thái Học ở Yên Bái; Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930) ở Nghệ An, Hà Tĩnh; Du kích Bắc Sơn tháng 9/1940; khởi nghĩa Nam Kỳ (23/11/1940). Rất nhiều tín hữu Công giáo đã tham gia vào các phong trào yêu nước này.

Năm 1940, Nhật Bản tấn công Đông Dương và chiếm quyền cai trị của Pháp. Năm 1941, mặt trận Việt Minh được thành lập. Năm 1945, sau khi quân Nhật đầu hàng quân Đồng Minh, đất nước Việt Nam rơi vào tình trạng hỗn loạn. Lực lượng Việt Minh do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã tổ chức thành công Cách mạng Tháng Tám. Ngày 2/9/1945, tại Hà Nội, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tuyên bố sự ra đời của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tháng 12/1946, chiến tranh giữa Việt Minh và thực dân Pháp bùng nổ và chỉ kết thúc với chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954.

Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, với hiệp định Genève ngày 20/7/1954, quân đội Pháp rút khỏi Việt Nam, nước Việt Nam bị chia thành hai miền. Vĩ tuyến 17 là giới tuyến tạm thời.

Vào thời điểm này đã xảy ra cuộc di cư ào ạt vào Nam của khoảng 950.000 người, trong đó có khoảng 700.000 tín hữu (x. Báo Người Việt, ngày 20/7/2014, số 10452). Biến cố này đã tạo nên nhiều xáo trộn trong GHCG ở miền Bắc và thay đổi mạnh mẽ cấu trúc của GHCG ở miền Nam. Giáo hội miền Bắc còn lại 10 giáo phận với 7 giám mục, 374 linh mục và một số ít tu sĩ phục vụ 750.000 tín hữu. Do số tín hữu đông đảo từ miền Bắc chuyển vào, nhiều giáo phận mới ở miền Nam được thành lập: Cần Thơ (1955) từ Nam Vang, Nha Trang (1957) từ Quy Nhơn.

4. Thời kỳ trưởng thành (1960 đến nay)

Thời kỳ này được đánh dấu bằng việc thành lập Hàng Giáo phẩm Công giáo Việt Nam năm 1960. Việc thành lập này có nghĩa là GHCGVN được Giáo Hội toàn cầu công nhận như một thực thể chính thức, trưởng thành trong mọi sinh hoạt của Giáo Hội. Tất cả các giám mục Việt Nam trước đây chỉ cai quản các giáo phận gọi là hiệu toà, nay được gọi là chính toà.

Ngày 24/11/1960, Đức Thánh Cha Gioan XXIII đã thiết lập Hàng Giáo phẩm Công giáo Việt Nam với 3 giáo tỉnh Hà Nội, Huế và Sài Gòn. Năm 1960, toàn bộ GHVN có 20 giáo phận: 10 ở giáo tỉnh Hà Nội, 4 ở Huế và 6 ở Sài Gòn. Thời điểm này, GHVN có 23 giám mục, 2.096.540 tín hữu trong số 29.200.000 dân, chiếm tỉ lệ 7,17%; 1.914 linh mục, 5.789 nam nữ tu sĩ, 1.530 đại và tiểu chủng sinh.

Tuy nhiên, giống như sự trưởng thành của con cái không phải chỉ là sự công nhận một chiều từ phía cha mẹ hay xã hội mà còn phải căn cứ vào sự lớn mạnh, vững chắc của chính chủ thể được công nhận về nhiều mặt. GHCGVN cũng chỉ thật sự trưởng thành khi có sự lớn mạnh về cộng đồng tín hữu, về nhận thức và hành động cũng như tinh thần truyền bá Phúc Âm cho mọi người. Chúng ta sẽ phải xét xem GHCGVN thật sự đã trưởng thành chưa và cần phải làm gì để đạt được sự trưởng thành như Giáo Hội Mẹ mong muốn?

4.1. Bối cảnh lịch sử của thời kỳ này

Thời kỳ này mới chỉ kéo dài 55 năm (1960-2015) nhưng nhiều biến cố lớn lao trên thế giới và trong đất nước đã ảnh hưởng sâu xa đến GHCGVN, tác động đến sự trưởng thành của Giáo hội này.

Trên thế giới, cuộc đối đầu giữa hai phe Tư bản chủ nghĩa và Xã hội chủ nghĩa, hay gọi là chiến tranh lạnh (1947-1991), sau Thế chiến thứ II, đã xảy ra ở nhiều nơi và ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam trong cuộc chiến từ 1954-1975.

Ngày 30/4/1975, cuộc chiến giữa hai miền Nam Bắc chấm dứt, đất nước thống nhất và ngày 2/7/1976 nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra đời với lãnh thổ bao gồm cả hai miền Nam Bắc. Việt Nam mở rộng mối quan hệ với mọi nước, đóng góp nhiều hơn vào việc hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN, hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ (2015), Nhật Bản (9/2015), Hàn Quốc và liên minh châu Âu.

Khi chính quyền miền Nam sụp đổ - sự kiện này đã tạo nên sự hoảng loạn trong một bộ phận dân chúng, nhất là những người có liên quan với chế độ trước, khiến gần một triệu người phải rời khỏi đất nước.

Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu, bắt đầu từ Ba Lan (1989) tác động đến toàn khối các nước theo chủ nghĩa xã hội đòi hỏi phải đổi mới. Ở Việt Nam, công cuộc đổi mới chính thức khởi đầu vào năm 1986 trong Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam và thật sự đã mang lại nhiều hiệu quả tốt đẹp, thay đổi được tình trạng kinh tế suy sụp của Việt Nam nhưng vẫn còn rất nhiều những khó khăn tồn tại. Ngày 1/11/2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và hoà nhập vào nền kinh tế thị trường thế giới.

4.2. Sự trưởng thành của GHCGVN

Chính trong bối cảnh thay đổi sâu xa của thế giới và của Việt Nam, GHCGVN được mời gọi đổi mới để trưởng thành. Nếu chúng ta không chấp nhận đổi mới chính mình, sự trưởng thành này sẽ khó có thể đạt được theo lòng mong ước của Giáo Hội toàn cầu. Nó sẽ giống như một con người lớn mạnh về thể xác, nhưng lại rất ấu trĩ và nhỏ bé về tâm hồn. Chúng ta quan tâm đến sự trưởng thành đó theo 4 lĩnh vực: trong cơ cấu tổ chức, trong nhận thức, trong hành động và trong việc PAH.

4.2.1. Trưởng thành trong cơ cấu tổ chức

Giai đoạn 1960-1975

Giáo hội miền Bắc hầu như không phát triển về mặt nhân sự và cơ sở. Ngược lại, Giáo hội miền Nam lại gia tăng rất nhanh số tín hữu. Các giáo phận ở miền Trung và miền Nam lại được chia nhỏ. Vào thời điểm 1975, GHVN có 3 Giáo tỉnh: Hà Nội, Huế, Sài Gòn với 25 giáo phận. Giáo phận mới nhất được Toà Thánh thiết lập là Bà Rịa vào năm 2005, nâng tổng số thành 26 giáo phận trong GHCGVN.

Khởi đầu thời kỳ này, một biến cố tác động sâu xa đến Giáo Hội toàn cầu cũng như GHVN, đó là CĐ. Chung Vaticanô II (1962-1965) với đường hướng đại kết và mục vụ đã làm cho GHVN, nhất là ở miền Nam, quan tâm nhiều đến vai trò của Giáo Hội trong thế giới ngày nay và thúc đẩy mọi tín hữu tích cực tham gia các hoạt động trong xã hội trần thế.

Sự phát triển của Giáo hội miền Nam Việt Nam trong thời kỳ này trước hết là do sự tổ chức quy củ của các giáo phận cho mọi thành phần Dân Chúa, nhất là trong việc đào tạo các linh mục và tu sĩ. Ở miền Nam, giáo phận nào cũng có các tiểu chủng viện thu nhận các học sinh từ lớp 6 và huấn luyện đến hết lớp 12 để đưa vào các đại chủng viện chung của từng vùng hay từng miền. Vì có chương trình đào tạo hoàn chỉnh và định hướng cụ thể nên các linh mục, sau 7-8 năm học ở đại chủng viện, đã trở thành những người lãnh đạo có khả năng tại các giáo xứ hay trong các hoạt động mục vụ.

Sự phát triển của xã hội, nhất là ở miền Nam Việt Nam, luôn có sự đóng góp tích cực và lớn lao của các hội đoàn và phong trào Công giáo Tiến hành. Mỗi giới, mỗi lứa tuổi, đều có những đoàn thể hướng dẫn nhằm giúp việc sống đạo tiến triển theo đường hướng tích cực. Ta có thể kể tên số đoàn hội tiêu biểu như: Thiếu Nhi Thánh Thể, Hùng Tâm Dũng Chí, Nghĩa Sinh, Hướng Đạo Sinh Công giáo, Thanh Sinh Công, Con Đức Mẹ, Thanh Lao Công, Legio Mariae, Hiệp Hội Thánh Mẫu, Bà Mẹ Công Giáo, Gia Đình Phạt Tạ, Bác Ái Vinh Sơn, Dòng Ba Phan Sinh, Dòng Ba Cát Minh, Dòng Ba Đa Minh…

Chúng ta không thể nào quên sự đóng góp lớn lao của các tu sĩ nam nữ vào sự phát triển Giáo Hội và xã hội. Phần lớn các tu sĩ dạy trong các trường học và làm việc tại các cơ sở bác ái từ thiện như bệnh viện, nhà hộ sinh, viện dưỡng lão, cô nhi viện, trại phong… Các tu sĩ được học hỏi nhiều về đời tu cũng như về các khoa học đạo đời để có khả năng phục vụ. Trình độ văn hoá của tu sĩ được nâng cao: trước đây là tốt nghiệp lớp 9, sau đó là lớp 12. Nhiều người còn học thêm vài ba năm thần học hoặc theo học các chuyên khoa tại các đại học (x. Niên Giám 2015, Chương 18, Đời sống thánh hiến tại Việt Nam).

Tuy nhiên, sự trưởng thành của GHVN ở miền Nam cũng được thử thách khi người tín hữu tiếp cận với lối sống hưởng thụ dễ dãi, thiên về khoa học thực nghiệm của nền văn hoá phương Tây. Dù được hoàn toàn tự do sống đạo và truyền đạo, nhưng số người theo đạo lại giảm sút so với những thời kỳ trước đây.

Giai đoạn 1975- 2015

Quả thật, sau khi thống nhất đất nước, GHCGVN đã bước vào một thời kỳ mới để ý thức hơn về sứ mạng của mình và càng thêm tin tưởng vào quyền năng ân sủng của Chúa. Cả hai miền trải qua một thời kỳ thử thách với nhiều cấm đoán từ một chính quyền chủ trương duy vật, vô thần, từ năm 1975 đến năm 1986, trước khi bước vào thời kỳ “đổi mới”, nhất là với những người Công giáo Việt Nam ở miền Nam.

4.2.2. Trưởng thành trong nhận thức

GHCGVN có lẽ cần quan tâm nhiều hơn để trưởng thành trong nhận thức. Sự nhận thức có được là do các thành phần dân Chúa được đào tạo tương đối hoàn chỉnh để có mối tương quan tốt đẹp với Chúa, với tha nhân, với vạn vật và với chính mình trong các lĩnh vực thể xác và tinh thần, tự nhiên và siêu nhiên, nội tâm và ngoại giới, cá nhân và tập thể thay vì quá chú ý đến các nghi lễ phụng tự hào nhoáng bên ngoài hay những kinh sách dài lời trong các buổi cầu nguyện.

Kể từ sau CĐ. Vaticanô II, người tín hữu có rất nhiều lợi thế để đạt tới sự trưởng thành về nhận thức hơn các thời kỳ của 20 thế kỷ đã qua. Cuốn Thánh Kinh, các văn kiện của Công đồng, sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo, sách Tóm lược Học thuyết Xã hội của GHCG, các thông điệp, huấn từ, tông thư… của các vị giáo hoàng thường được dịch ngay sang tiếng Việt, dễ dàng cho các tín hữu học hỏi. Thêm vào đó là các bản văn phụng vụ và Giờ kinh Phụng vụ cũng được cử hành bằng tiếng Việt thay vì bằng tiếng Latinh như trước đây, rất dễ dàng cho người tín hữu tham dự cách sống động và tích cực. Các chủng viện, học viện cho tu sĩ, học viện mục vụ dành cho giáo dân với các chương trình dạy triết học, thần học bằng tiếng Việt cũng là những phương tiện hữu ích cho việc đào tạo sự trưởng thành về mặt nhận thức này.

Các linh mục, tu sĩ và giáo dân ưu tuyển là các giáo lý viên, những đoàn viên các đoàn thể Công giáo Tiến hành, cần ý thức rằng chính mình là những người xây dựng và bảo vệ đất nước, bảo vệ nền văn hoá dân tộc bằng cách phổ biến những giá trị mới mẻ của nền văn minh Kitô giáo. Nền văn minh này đặt nền tảng trên tình yêu, một tình yêu quảng đại, trong sáng, mãnh liệt, mang tính vĩnh hằng của Thiên Chúa.

Tổ tiên Công giáo chúng ta đã giới thiệu cho đồng bào về giá trị của dân chủ, bình đẳng nam nữ, hôn nhân một vợ một chồng, khoa học kỹ thuật, chữ Quốc ngữ… của nền văn minh đó. Tuy nhiên nhiều tín hữu trong đó có cả linh mục và tu sĩ vẫn chưa trrưởng thành trong nhận thức và học hỏi những điều mới mẻ để truyền đạt lại cho giáo dân, nên sự trưởng thành về nhận thức có thể nói là chưa đạt được theo lòng mong ước của Giáo hội toàn cầu.

4.2.3. Trưởng thành trong hành động

Hơn nữa, “đức tin không có hành động là đức tin chết” (Gc 2,17) cũng như người có “nhận thức mà không hành động” chỉ là hạng người “pharisêu” từng bị Chúa Giêsu trách cứ nhiều lần. Người tín hữu Việt Nam thời nay phải đưa những nhận thức đúng đắn, hoàn chỉnh và toàn diện của Kitô giáo thành những hành động cụ thể trong đời sống.

Hành động cần thể hiện sự trưởng thành có lẽ phải đi xuống sâu hơn, ở những cấp thấp hơn là các linh mục, khi họ dám “đi ra” khỏi nhà thờ, nhà xứ để hoà mình vào đời sống người dân, nhất là những người nghèo khổ, tật bệnh, bị gạt ra ngoài lề xã hội và mang lại sự cứu giúp cần thiết, cụ thể và ơn cứu độ như yêu cầu của ĐGH Phanxicô trong tông huấn “Niềm vui Phúc Âm”, ngày 24/11/2013. Hoặc đi xuống tột điểm là các tín hữu giáo dân khi họ biến nhận thức thành hành động cụ thể trong mọi lĩnh vực của đời sống. Tuy nhiên, giống như hầu hết các dân tộc châu Á, tín hữu Công giáo VN vẫn chưa có nhiều những hành động cụ thể để làm chứng cho Chúa Giêsu Kitô. Họ vẫn tập trung vào những kiểu sống đạo nặng phần nghi lễ, lời kinh và làm vài việc bác ái nhỏ nhặt để tìm sự an thân cho mình, khác hẳn thái độ dấn thân của tổ tiên.

4.3.4. Trưởng thành trong việc Tân Phúc Âm hoá

Nếu nhìn lại các số liệu thống kê về dân số Công giáo, chúng ta thấy dân số công giáo tăng trưởng nhanh chóng: năm 1889 có 648.435 người, chiếm 6.5% dân số; năm 1939 có 1.544.765 người, chiếm 6,66%; năm 1960 có 2.094.540 người chiếm 7,17%; năm 1999 có 5.228.000 người chiếm 6,6% (x. Catholic Almanac 2002, tr. 338); năm 2009 có 5.677.086 người chiếm 6,61% (x. Tổng Điều tra Dân số toàn quốc 2009); năm 2015 có 6.489.084 người chiếm 6,78% dân số. Tuy nhiên, đó chỉ là sự gia tăng cơ học, nghĩa là người dân sinh sản nhiều thì dân số tự nhiên tăng theo.

Muốn biết lĩnh vực truyền giáo hiệu quả hay không, người ta phải tính đến số người lớn theo đạo Công giáo hằng năm. Quả thật, trong vài chục năm gần đây, số người lớn gia nhập đạo ở Việt Nam khoảng 30.000 đến 40.000 người mỗi năm, nhưng hầu hết là để lập gia đình với người Công giáo. Điều tra trong các lớp giáo lý tân tòng đã cho chúng ta thấy điều đó. Nhưng sau khi lấy được vợ hay chồng rồi, rất ít người còn giữ đạo và số người bỏ đạo mỗi năm cũng tương đương với người theo đạo. Kết quả là tỷ lệ dân số Công giáo hầu như vẫn giữ nguyên khoảng 7% trong suốt hơn 130 năm qua. Như thế là chúng ta chưa thấy rõ được sự trưởng thành về mặt truyền đạo của GHVN.

GHCG toàn cầu đã triệu tập Thượng Hội đồng Giám mục (THĐGM) thế giới vào tháng 10/2012 tại Rôma với đề tài “Tân PAH để thông truyền đức tin” và nhắc nhở tín hữu rằng: tình trạng xã hội, văn hoá của thế giới đã thay đổi sâu xa nhưng người Công giáo không thay đổi cách thức truyền đạo, nên việc truyền đạo không đạt kết quả. THĐGM phân tích những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này và chúng ta gặp thấy các nguyên nhân ấy ở GHCGVN. Giáo Hội cũng đề ra giải pháp Tân PAH, nghĩa là phải trở thành Phúc Âm, trở thành Lời Sống động là Ngôi Lời Thiên Chúa làm người, trở thành Đức Giêsu Kitô hiện thân, thì mới mong đạt được kết quả truyền đạo như thời các Thánh Tông đồ xưa.

Trở thành hiện thân của Đức Giêsu Kitô là người tín hữu phải gặp được Người vì đức tin là cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa cụ thể là Đức Giêsu với từng con người cụ thể, phải kết hợp mật thiết với Người để Người chuyển thông cho họ tình yêu, sức mạnh, ân sủng và cả quyền năng, rồi từ đó họ mới có thể chia sẻ cho người khác “sự thật và sự sống, sự thánh thiện và ân sủng, tình yêu, công lý và hoà bình” (x. Kinh Tiền Tụng Lễ Chúa Giêsu, Vua Vũ Trụ). Xã hội Việt Nam đang rất cần những giá trị đó để có thể đứng vững và phát triển nhưng hình như những tín hữu Công giáo, nhất là những người có trách nhiệm lãnh đạo cộng đồng, chưa ý thức được sứ mạng cao quý của mình. Họ cũng chưa phát huy những ân sủng kỳ diệu của Chúa Giêsu Kitô ban cho họ nên công trình PAH vẫn chưa đạt kết quả như lòng mong ước. Bước đường trưởng thành về tân PAH còn đang trải dài phía trước cho GHVN.

Lời kết

Nhìn lại dòng lịch sử dân tộc, người tín hữu Việt Nam sẽ cảm nghiệm được tình thương của Cha Trên Trời để sống hoà thuận và hiệp thông với anh em trên mọi miền đất nước, cũng như với mọi người trên thế giới. Như dòng sông nào cũng chảy xuôi về biển, hoà vào đại dương bao la, rồi dưới ánh nắng mặt trời, hơi nước bốc lên cao thành mây, thành mưa trả lại cho dòng sông nguồn nước tinh khiết từ trời, thì người tín hữu cũng luôn được mời gọi để hoà nhập và biến đổi như thế trong cuộc sống đạo thường ngày.

Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn

 

Nguồn: HKK


Tin - Bài khác
Xóa nghèo thông tin
Phát triển bền vững: Giải pháp cho thế giới hôm nay
Ông đồ vẫn ngồi đó, qua đường chẳng ai hay
Đức Giáo Hoàng, Giáng sinh, và “Tin tức Ngụy tạo” về Hitler
Cơm ba bát, thuốc ba thang, bài giảng… ba từ
“Chỉ Có Từ Thiên Chúa Mới Xuất Phát Cuộc Cách Mạng Chân Chính”
Hà Thành ký sự
Trắc nghiệm DOCAT chương 10 - 11 - 12: Môi trường - Hoà bình - Tình yêu
Trắc nghiệm DOCAT chương 7-8-9: Kinh tế - Chính trị - Quốc tế
Bài 12 – Lớp Hội nhập Văn hoá Nét văn hoá trong chữ viết
Trắc nghiệm DOCAT chương 4-5-6
Trắc nghiệm DOCAT chương 1-2-3
Bài 11 – Lớp Hội nhập Văn hoá: Thể thao như một lĩnh vực của Tân Phúc Âm Hoá
Một thời để Người Kitô hữu nhập thế
GIÁO HUẤN XÃ HỘI CÔNG GIÁO TRONG A CHRISTMAS CAROL
Bài 10 - Lớp Hội nhập Văn hoá: Có nên quan tâm đến yếu tố tôn giáo trong hoạt động doanh nghiệp ở Việt Nam không?
Bài 9 - Lớp Hội nhập Văn hoá: Các tôn giáo ở Việt Nam gắn bó và đồng hành cùng dân tộc
Đức Giêsu là người Thầy tuyệt vời
Bài 8 – Lớp Hội nhập Văn hoá: GHCGVN và Tân Phúc Âm hoá
Bài 7 – Lớp Hội nhập Văn hoá: Giáo Hội và các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Bài 6 – Lớp Hội nhập Văn hoá: Đức Maria là Mẹ Việt Nam
Bài 5 - Lớp Hội nhập Văn hoá: Xây dựng nền nhân bản toàn diện và liên đới
Sứ điệp của ĐTC Phanxicô cho Ngày Thế giới Truyền giáo 2016
Bài 4- Lớp Hội nhập Văn hoá: Xây dựng nền văn minh tình yêu
Bài 3 - Lớp Hội nhập Văn hoá: Cấu trúc văn hoá-xã hội của người Việt
Bài 2 - Lớp Hội nhập văn hoá: Đối thoại với tín đồ các tôn giáo khác về thiên đường, địa ngục...
Bài 1: Văn hoá là gì? Hội nhập Văn hoá là gì?
Trăng vàng mùa thu
Đàng Thánh Giá theo thánh Têrêsa Calcutta
“Xin hãy làm một Do-Cat”
Trang 1 trong 6Đầu tiên    Trước   [1]  2  3  4  5  6  Tiếp   Cuối    
Tìm kiếm trong phần Tin - Bài này